Vietnam.vn - Nền tảng quảng bá Việt Nam

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Lời “gan ruột” của những nhân tài chọn trở về

(Dân trí) - Giữa dòng chảy toàn cầu, nhiều trí thức trẻ chọn trở về phụng sự Tổ quốc, nhưng trước mắt họ vẫn còn những “nút thắt”.

Báo Dân tríBáo Dân trí30/08/2025

Lời “gan ruột” của những nhân tài chọn trở về - 1

Từ hàng nghìn du học sinh miệt mài trên giảng đường quốc tế đến những tiến sĩ trẻ xách vali trở về, câu hỏi “Ở lại hay về nước?” chưa bao giờ dễ trả lời.

Rất nhiều bài toán lớn được đặt ra:

- Làm thế nào để “ươm mầm” những nhà khoa học Việt đủ sức “bơi” ra biển lớn?

- Khi nhân tài đã được đào tạo, rèn giũa ở môi trường quốc tế, làm sao để thu hút họ trở về?

- Và một khi đã trở về, đâu là lời giải cho bài toán giữ chân, để nhân tài không chỉ ở lại mà còn phát huy hết tiềm năng?

Chúng tôi đã lắng nghe câu chuyện từ chính những nhà khoa học trẻ chọn trở về phụng sự quê hương, để thấy được phần nào những nút thắt và rào cản.

Người Việt dù ở đâu cũng luôn đau đáu về quê hương. Nhưng nếu có những bài toán và một lộ trình rõ ràng để thực hiện, câu trả lời "ta sẽ làm gì cho đất nước hôm nay" sẽ sáng tỏ hơn rất nhiều với họ.

Lời “gan ruột” của những nhân tài chọn trở về - 3

Theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, hiện có khoảng gần 250.000 du học sinh Việt Nam đi học nước ngoài ở bậc THPT, đại học và sau đại học.

Trong đó có gần 4.000 du học sinh học bổng ngân sách nhà nước do Bộ GD&ĐT quản lý, chiếm khoảng 1,6% tổng số du học sinh Việt Nam ở nước ngoài.

Du học sinh đi học tập, nghiên cứu ở nước ngoài bằng nguồn kinh phí ngoài ngân sách nhà nước chủ yếu là diện học bổng khác và diện tự túc.

Với những lựa chọn này, hành trình đầu tư cho tri thức không chỉ dừng ở nỗ lực học thuật mà còn gắn liền với chiến lược tài chính dài hạn.

Áp lực và kỳ vọng từ khoản đầu tư ấy có thể trở thành yếu tố quyết định việc ở lại hay quay về sau khi tốt nghiệp.

Tiến sĩ Phạm Thanh Tùng là giảng viên Trường Đại học VinUni. Sau khi tốt nghiệp Đại học Y Hà Nội, anh nhận học bổng toàn phần từ Quỹ Giáo dục Việt Nam (VEF) để học thạc sĩ tại Johns Hopkins và học bổng tiến sĩ của Đại học Harvard.

Lời “gan ruột” của những nhân tài chọn trở về - 5

TS Tùng nhìn nhận một trong những thách thức lớn hiện nay là nguồn viện trợ quốc tế dành cho học bổng hiệp định và học bổng Chính phủ Việt Nam đang giảm so với trước.

Nguyên nhân một phần xuất phát từ việc Việt Nam đã bước vào nhóm thu nhập trung bình, khiến các tổ chức quốc tế ưu tiên phân bổ nguồn lực cho những quốc gia khó khăn hơn.

“Khi các suất học bổng ngân sách nhà nước ít đi, nhiều người trẻ phải tìm học bổng từ các trường hoặc tự chi trả chi phí học tập.

Với những trường hợp tự túc, áp lực tài chính trở thành yếu tố quan trọng trong quyết định ở lại hay quay về sau tốt nghiệp, nhất là khi cần thời gian làm việc ở nước ngoài để bù đắp khoản đầu tư cho tấm bằng”, Tiến sĩ 9x cho biết.

Lời “gan ruột” của những nhân tài chọn trở về - 7

Tiến sĩ Cấn Thành Trung - chàng trai 9x trở về từ Viện Công nghệ California và đang giảng dạy tại Đại học Khoa học Tự nhiên TPHCM chia sẻ:

“Nhiều trường hợp, du học được coi là một khoản đầu tư lớn của gia đình, kéo theo áp lực phải nhanh chóng đạt được mức thu nhập để bù đắp chi phí đã bỏ ra”.

Cũng theo lời tiến sĩ trẻ, người nhận học bổng toàn phần thường ít chịu ràng buộc tài chính hơn, trong khi những người tự chi trả phải ưu tiên các cơ hội nghề nghiệp có thu nhập cao, điều này có thể khiến họ cân nhắc kỹ lưỡng giữa việc ở lại nước ngoài hay trở về.

Tiến sĩ Thái Mai Thành hiện là giảng viên Chương trình Kỹ thuật Cơ khí, Viện Kỹ thuật và Khoa học Máy tính, Đại học VinUni. Sau khi hoàn thành Tiến sĩ Kỹ thuật Y sinh tại Đại học New South Wales (Úc, 2023), chàng trai trẻ đã quyết định xách vali hồi hương.

TS Thành cho rằng, du học theo diện tự chi trả là một khoản đầu tư lớn và việc trúng tuyển vào các trường hàng đầu thế giới là thử thách không nhỏ.

Tuy nhiên, ảnh hưởng của những cá nhân này khi trở về còn phụ thuộc vào môi trường và điều kiện làm việc trong nước.

Theo anh, các chương trình học bổng của Nhà nước có thể tạo ra ràng buộc và định hướng rõ hơn, giúp những người trở về phát huy tác động lâu dài.

Lời “gan ruột” của những nhân tài chọn trở về - 9

Dưới góc nhìn TS Thành, có không ít sinh viên đang làm nghiên cứu ở Việt Nam nhưng sau đó dừng lại và không tiếp tục nữa. “Sức hút của môi trường quốc tế vẫn rất lớn”, TS Thành giải thích.

“Thuyết phục những bạn nghiên cứu tiến sĩ ở Việt Nam là điều cực kỳ khó, vì có nhiều bạn tôi đang hướng dẫn hoàn toàn có thể lấy được học bổng tiến sĩ ở nước ngoài”, TS Thành chia sẻ.

Để thực sự thu hút được họ, theo TS Thành, cần đáp ứng việc xây dựng phòng thí nghiệm đầy đủ cơ sở hạ tầng, triển khai các đề tài mới và bài toán đủ lớn và ngoài ra có một số phúc lợi khác như bảo hiểm y tế.

Ở nước ngoài, có ba điều kiện cốt lõi giúp nhà nghiên cứu trẻ yên tâm ở lại: visa để ở lại, thu nhập tốt và có bảo hiểm.

Tiến sĩ, Nghiên cứu viên Phạm Sỹ Hiếu, Viện Khoa học Vật liệu, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam sở hữu 2 bằng tiến sĩ: ngành Hóa học tại Đại học Artois (Pháp) và tiến sĩ khoa học tại Đại học Mons (Bỉ).

Tiến sĩ trẻ này cho rằng trong câu chuyện “quay trở về” sau du học, nhóm đi theo diện học bổng đóng vai trò đặc biệt. Những người này được Nhà nước hoặc các trường quốc tế chi trả học phí, sinh hoạt phí và thường có cam kết trở về phục vụ đất nước.

Tuy nhiên, thực tế cũng nảy sinh vấn đề: nhiều người sau khi quay về lại không phù hợp với vị trí công tác. Nguyên nhân là môi trường đào tạo ở nước ngoài thường mang tính học thuật cao, trong khi điều kiện nghiên cứu và cơ sở vật chất trong nước chưa đáp ứng được.

Điều này khiến không ít người nản lòng, các công trình nghiên cứu khó triển khai hoặc không thể thực hiện, dẫn đến một số trường hợp tìm cách bồi hoàn chi phí để rời vị trí công tác.

Lời “gan ruột” của những nhân tài chọn trở về - 11

Trong câu chuyện trở về, bài toán tài chính là một trong những yếu tố quyết định khả năng giữ chân nhân tài.

Tại Diễn đàn Trí thức trẻ Việt Nam toàn cầu lần thứ VI khai mạc sáng 19/7 tại Hà Nội, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng đã đề xuất cần xóa bỏ quy định “trần lương” trong các đơn vị công lập, đặc biệt là trường đại học, viện nghiên cứu để thu hút và giữ chân trí thức Việt Nam ở nước ngoài quay về đóng góp cho đất nước.

Theo Thứ trưởng Hằng, muốn đột phá trong khoa học, giáo dục và chuyển đổi số, Việt Nam cần có cơ chế tuyển dụng và đãi ngộ mới - không gò bó theo ngạch, bậc, hệ số mà phải linh hoạt, cạnh tranh.

Bà cũng kiến nghị khuyến khích không phân biệt giữa khu vực công và tư, bởi cả hai đều đóng góp cho sự phát triển chung của đất nước.

Những kiến nghị này cũng phản ánh thực tế mà các nhà khoa học trẻ, như TS Cấn Trần Thành Trung, đã quan sát và trải nghiệm. TS Trung chỉ ra một điểm khác nhau giữa Việt Nam và các nước phát triển, đó là cơ chế đào tạo sau đại học.

Ở Mỹ, các chương trình tiến sĩ thường kéo dài từ 5 đến 6 năm với học bổng toàn phần, cho phép nghiên cứu sinh toàn tâm toàn ý coi nghiên cứu như một công việc ổn định.

Năm cuối chương trình tiến sĩ, Trung nhận được khoản học bổng sau tiến sĩ đủ để trang trải cuộc sống ổn định, yên tâm làm nghiên cứu và thậm chí có thể tiết kiệm mỗi tháng.

Lời “gan ruột” của những nhân tài chọn trở về - 13

Mô hình này giúp các nhà nghiên cứu yên tâm gắn bó với các dự án dài hơi. Trong khi đó, tại Việt Nam, cơ chế này vẫn còn khá mới mẻ.

TS Trung lấy dẫn chứng, ở Mỹ - nơi chàng trai Việt từng có cơ hội học tập và nghiên cứu, có những giáo sư được nghỉ giảng dạy nhiều năm để tập trung nghiên cứu, đồng thời vẫn nhận được khoản lương ổn định đi kèm.

“Với những đề tài lớn và tầm cỡ, thời gian có thể kéo dài đến 8-10 năm, đòi hỏi một chiến lược đầu tư tài chính dài hạn để các nhà khoa học toàn tâm, toàn ý nghiên cứu”, TS Trung chia sẻ.

Theo TS Trung, gần đây, một số trường đại học đã bắt đầu tiên phong áp dụng hình thức kết hợp giữa lương giảng dạy và lương nghiên cứu cho giảng viên, nhằm cải thiện bài toán tài chính cho nhà khoa học.

Từ thực tế trải nghiệm, TS Phạm Sỹ Hiếu cho rằng: “Việc tách riêng 2 khoản lương này thường xuất hiện ở những trường có khả năng tự chủ kinh tế như là một chính sách để giữ chân nhân tài”.

Đồng thời, TS Hiếu cũng cho rằng, chỉ khi giải quyết được bài toán cơm áo gạo tiền, nhà khoa học mới có thể phát triển ổn định và lâu dài.

Lời “gan ruột” của những nhân tài chọn trở về - 15

Theo khoản 3, điều 4 Thông tư 20/2020/TT-BGDĐT, định mức giờ chuẩn giảng dạy của giảng viên trong một năm học ở Việt Nam từ 200 đến 350 giờ chuẩn, tương đương 600-1.050 giờ hành chính, gần gấp đôi so với Pháp (190 giờ)  cao hơn nhiều so với Mỹ, Đức (120-180 giờ).

Khi phần lớn thời gian bị chiếm bởi giảng dạy, quỹ thời gian cho nghiên cứu và theo đuổi các dự án khoa học dài hạn sẽ bị thu hẹp đáng kể.

TS Thái Mai Thành đưa thêm một góc nhìn so sánh, cho rằng mô hình chỉ tập trung hoàn toàn vào nghiên cứu toàn thời gian thường chỉ xuất hiện ở những trường thuộc top 100 thế giới.

“Ngay cả tại các trường top 200, các giáo sư vẫn phải giảng dạy, giống như thầy giáo của tôi ở Hàn Quốc vẫn đảm nhận 3-4 môn/năm”, TS Thành dẫn chứng.

TS Thành hiện dạy 3 môn/năm, anh cho rằng các nhà khoa học cần kết hợp giảng dạy, nhưng ở mức độ nào đó hợp lý và cân bằng.

Bởi khi dành một phần thời gian cho giảng dạy, nhà khoa học cũng đang truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm cho thế hệ sau, tạo ra giá trị song song với công việc nghiên cứu.

Tiến sĩ trẻ chia sẻ, trong khoa học, chỉ tập trung nghiên cứu rất áp lực.

Nếu kết quả không thể “đong đếm” bằng sản phẩm hay công bố thì khó chứng minh giá trị, bởi mọi khoản đầu đều phải chuyển hóa thành thành quả cụ thể, ứng dụng được và mang lại lợi ích cho cộng đồng.

Theo TS Thành, nhà khoa học cũng nên đặt mình vào vị trí của người quản lý để thấu hiểu áp lực này.

“Khi các nghiên cứu, đề tài không thành công hoặc dự án trong thời gian “nằm im”, ta vẫn có thể tạo ra giá trị về mặt giảng dạy”, TS Thành bày tỏ.

Lời “gan ruột” của những nhân tài chọn trở về - 17

Còn theo TS Hiếu, bên cạnh vấn đề đãi ngộ, thủ tục hành chính cũng trở thành rào cản lớn đối với nhà khoa học khi không thể “toàn tâm, toàn ý” cho nghiên cứu.

“Khi làm việc ở nước ngoài, tôi chỉ tập trung nghiên cứu, các thủ tục đã có các trợ lý và thư ký của trung tâm nghiên cứu phụ trách”, TS Hiếu chia sẻ.

Ngược lại, ở trong nước, nhà nghiên cứu phải tự lo mọi khâu: từ xin đề tài, triển khai đến giải ngân kinh phí.

Mỗi đề tài hay dự án lại yêu cầu một bộ hồ sơ và các thủ tục hành chính theo mẫu riêng, kèm xác nhận của cơ quan chủ quản.

“Nhà khoa học mà phải thường xuyên phải lo câu chuyện thủ tục thì rất khó để tập trung nghiên cứu được”, TS Hiếu chia sẻ.

Lời “gan ruột” của những nhân tài chọn trở về - 19
Lời “gan ruột” của những nhân tài chọn trở về - 21

Theo TS Thái Mai Thành, Việt Nam hiện nay đầu tư rất nhiều cho các dự án nghiên cứu khoa học, đặc biệt là các dự án do Chính phủ tài trợ.

Tuy nhiên, ở góc nhìn của một nhà khoa học trẻ từng trải qua hệ thống nghiên cứu quốc tế, TS Thành nhận thấy rào cản đáng kể: những nhân tài trẻ gần như rất khó cạnh tranh được những suất dự án lớn này.

Ở nhiều quốc gia, hệ thống phân bổ ngân sách nghiên cứu được chia thành nhiều cấp độ rõ ràng.

TS Thành lấy một ví dụ: “Sau khi tốt nghiệp tiến sĩ khoảng 5 năm, sẽ có một “sân chơi” riêng cho nhóm nhà khoa học trẻ, họ cạnh tranh với những người cùng thế hệ để giành các dự án được đầu tư.

Khi đã có thêm 5-10 năm kinh nghiệm sau tiến sĩ, họ có thể tiếp cận các dự án ở cấp độ cao hơn với nguồn tài trợ lớn hơn.

Sau khoảng 15 năm kinh nghiệm, họ mới đủ điều kiện để tham gia các dự án quy mô rất lớn, yêu cầu năng lực quản lý và kinh nghiệm nghiên cứu dày dặn”.

Ở Việt Nam, cơ chế này gần như chưa tồn tại. Điều đó khiến những nhà khoa học trẻ mới về nước khó có thể cạnh tranh với các bậc tiền bối đã gắn bó lâu năm với hệ thống.

Khi nộp hồ sơ vào các hội đồng khoa học hay ủy ban xét duyệt dự án, ứng viên trẻ ít có “chỗ đứng” cả về kinh nghiệm lẫn thành tích, dẫn tới cơ hội nhận tài trợ rất thấp.

Lời “gan ruột” của những nhân tài chọn trở về - 23

TS Thành cho rằng, chính sách này vô hình trung tạo ra rào cản tâm lý và nghề nghiệp, khiến không ít người trẻ sau khi học xong ở nước ngoài phải chần chừ hoặc thậm chí từ bỏ ý định trở về.

“Điều mà tôi muốn gửi gắm là hãy cho người trẻ một cơ hội thực sự để thử sức và chấp nhận rủi ro. Xã hội thường kỳ vọng người trẻ phải thành công ngay lập tức, nhưng bản chất của nghiên cứu là thử nghiệm và học hỏi.

Những nhà khoa học kỳ cựu đã có nền tảng để đảm bảo kết quả. Trong khi đó, người trẻ có thể chưa nhiều kinh nghiệm nhưng lại giàu ý tưởng mới, sẵn sàng thử những hướng đi táo bạo.

Nếu có cơ chế giám sát tốt cùng với yêu cầu rõ ràng về tiến độ và mục tiêu, thì ngay cả khi kết quả chưa đạt kỳ vọng, giá trị tích lũy từ quá trình nghiên cứu vẫn rất lớn”, TS Thành bày tỏ.

TS Thành tin rằng, nếu Việt Nam phân cấp dự án theo giai đoạn sự nghiệp, hỗ trợ tài chính hợp lý, giám sát minh bạch thì sẽ có nhiều nhà khoa học trẻ sẵn sàng trở về, mang theo kiến thức và nhiệt huyết để cống hiến.

Nội dung: Linh Chi, Minh Nhật

Ảnh: Hùng Anh, Thanh Bình, Minh Nhật

Thiết kế: Huy Phạm

Nguồn: https://dantri.com.vn/khoa-hoc/loi-gan-ruot-cua-nhung-nhan-tai-chon-tro-ve-20250828225942356.htm


Bình luận (0)

No data
No data

Cùng chủ đề

Cùng chuyên mục

Cận cảnh dàn 'quái vật thép' phô diễn uy lực tại A80
Tổng hợp luyện A80: Sức mạnh Việt Nam tỏa sáng dưới đêm Thủ đô ngàn năm văn hiến
Giao thông Hà Nội hỗn loạn sau mưa lớn, tài xế bỏ ô tô trên đường ngập
Những khoảnh khắc ấn tượng về đội hình bay làm nhiệm vụ trong Đại lễ A80

Cùng tác giả

Di sản

Nhân vật

Doanh nghiệp

No videos available

Thời sự

Hệ thống Chính trị

Địa phương

Sản phẩm