Quyết liệt trong chỉ đạo, điều hành
Những năm qua, Quảng Ninh đã nhất quán đề ra các giải pháp, lộ trình thực hiện bài bản nhằm chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ “nâu” sang “xanh”, quyết tâm thực hiện các giải pháp bảo vệ môi trường tự nhiên. Điều này được thể hiện rõ nét trong các quy hoạch quan trọng của tỉnh, điển hình là Quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH, Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch của tỉnh do tư vấn Hoa Kỳ lập; Quy hoạch môi trường tỉnh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 do tư vấn Nhật Bản lập. Cùng với đó là các Nghị quyết, chương trình riêng về công tác bảo vệ môi trường, như Nghị quyết 236/NQ-HĐND (ngày 12/12/2015) của HĐND tỉnh khóa XII về những chủ trương, giải pháp tăng cường công tác bảo vệ môi trường tỉnh giai đoạn 2016-2020; Nghị quyết số 10-NQ/TU về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu, đảm bảo an ninh nguồn nước giai đoạn 2022-2030…
Đặc biệt, ngân sách nhà nước tỉnh đã có mục chi riêng cho hoạt động BVMT và phấn đấu bố trí tăng dần qua các giai đoạn từ năm 2016 đến 2024, phù hợp với khả năng ngân sách của tỉnh và đảm bảo bố trí kinh phí sự nghiệp môi trường không thấp hơn 2% tổng chi ngân sách nhà nước trong dự toán ngân sách hàng năm, vượt định mức theo quy định của trung ương (không thấp hơn 1%). Qua đó, đáp ứng đủ nhu cầu vốn chi thường xuyên cho hoạt động BVMT. Kinh phí chi cho hoạt động BVMT, ứng phó biến đổi khí hậu đã đóng góp tích cực và mang lại những kết quả quan trọng, góp phần thực hiện thành công một số mục tiêu, nhiệm vụ tại các Chương trình, Kế hoạch triển khai thực hiện Luật BVMT và các văn bản hướng dẫn thi hành, các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch của quốc gia về BVMT thực hiện trên địa bàn tỉnh; giúp cho các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội đáp ứng tốt hơn các yêu cầu về phát triển bền vững.
Điều này đã được Chính phủ và Bộ Tài nguyên và Môi trường (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đánh giá rất cao khi hiện nay các địa phương khác trong cả nước chỉ mới chi 1% hoặc dưới 1% tổng ngân sách cho lĩnh vực này. Bên cạnh chi từ nguồn ngân sách, tỉnh còn bố trí nguồn Quỹ phát triển khoa học công nghệ của tỉnh, trung bình hàng năm đạt từ 1,2-3,6 tỷ đồng cho các nhiệm vụ, dự án về bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh. HĐND tỉnh hàng năm đều ban hành quy định phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi và tỷ lệ phần trăm phân chia các khoản thu giữa ngân sách các cấp để chi cho nhiệm vụ bảo vệ môi trường.
Cùng với đó, tỉnh Quảng Ninh cũng thúc đẩy huy động các nguồn lực từ các thành phần kinh tế, các tổ chức xã hội và cộng đồng tham gia đầu tư các dự án BVMT, các hoạt động BVMT thông qua việc xây dựng và nhân rộng các mô hình kinh tế - xã hội lồng ghép BVMT, bảo tồn đa dạng sinh học, ứng phó với biến đổi khí hậu như: Mô hình du lịch sinh thái, cộng đồng tại một số địa phương Bình Liêu, Hải Hà, Vân Đồn...; mô hình sản xuất sạch hơn, sử dụng tiết kiệm năng lượng, tài nguyên trong các ngành nghề sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; thúc đẩy khối tư nhân tham gia thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại một số địa phương như thành lập tổ phụ nữ thu gom rác thải, thành lập tổ đội thu gom chất thải tại một số địa phương… Phát huy vai trò các hội, nhóm tình nguyện vì BVMT, các tổ chức chính trị - xã hội để huy động nguồn lực cộng đồng tham gia BVMT.
Song song với đó, tỉnh cũng tổ chức nhiều hội thảo, chương trình làm việc, nhằm mở rộng quan hệ hợp tác trên các lĩnh vực để huy động nguồn lực, kinh nghiệm, thực tiễn trong nước và quốc tế cho công tác bảo vệ môi trường. Có thể kể đến như: Hội thảo quốc tế “Công nghệ phù hợp thân thiện môi trường trong tận dụng chất thải và phục hồi môi trường ở vùng sâu, vùng xa” thuộc khuôn khổ Dự án thiết kế phát triển mạng lưới truyền thông tương tác giữa ASEAN - Nga, nhằm trao đổi công nghệ phát triển nông nghiệp bền vững; làm việc với JICA Việt Nam, Đại học Saitama và Đại học Xây dựng về các nội dung đề xuất thúc đẩy tái chế chất thải rắn xây dựng; khởi động dự án xử lý chất thải thành năng lượng…
Đồng bộ các giải pháp
Nhận thức rõ trách nhiệm cũng như vai trò của công tác bảo vệ môi trường, các địa phương, doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn cũng đã chú trọng triển khai các nhiệm vụ cụ thể, đầu tư nguồn lực, xây dựng quy chế, chiến lược phát triển doanh nghiệp gắn với công tác bảo vệ môi trường; chủ động kiểm soát chặt chẽ các nguồn thải, xử lý nước thải, khí thải bảo đảm theo quy chuẩn…
Đơn cử, ngành Than đã phê duyệt nhiều phương án bảo vệ môi trường tổng thể tại các khu vực sản xuất dễ phát sinh nguy cơ ảnh hưởng đến môi trường như: Mỏ than Hà Tu; bãi thải Bàng Nâu; Nhà máy tuyển than và cảng Cửa Ông; cảng Làng Khánh và cảng Km6; BVMT tổng thể tại cụm Khe Chàm và mặt bằng 56, mặt bằng +17 Mạo Khê… Các công trình môi trường trọng điểm tại những khu vực trên đưa vào hoạt động đang phát huy hiệu quả trong việc giảm thiểu, ngăn chặn tác động xấu từ chế biến, vận chuyển, tiêu thụ than tới môi trường xung quanh. Hiện nay, Tập đoàn đang đẩy nhanh tiến độ thực hiện Đề án bảo vệ môi trường Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam giai đoạn 2022-2025, định hướng tới 2030. Theo đó, tập trung vào trồng cây cải tạo phục hồi môi trường, sử dụng lại khai trường mỏ làm quỹ đất và hồ chứa nước tự nhiên phục vụ sản xuất và sinh hoạt. Cùng với đó, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam tiếp tục triển khai thực hiện các phương án bảo vệ môi trường tổng thể tại các vị trí trọng điểm đã được phê duyệt.
Các đơn vị sản xuất xi măng, nhiệt điện cũng đã triển khai lắp đặt công tơ điện tử để đo điện năng tiêu thụ độc lập của hệ thống lọc bụi tĩnh điện ở các vị trí thuận lợi để cơ quan quản lý và người dân dễ dàng giám sát. Một số đơn vị còn đầu tư lắp đặt hoàn thiện hệ thống quan trắc môi trường tự động; đầu tư, nâng cấp hệ thống xử lý khí bụi; tận dụng tro, xỉ thải nhiệt điện làm nguyên liệu sản xuất gạch không nung... Qua đó, đã góp phần giảm thiểu phát thải ô nhiễm môi trường, tiết kiệm tài nguyên.
Các cơ sở sản xuất trong khu dân cư, tỉnh đã hoàn thiện cơ chế chính sách hỗ trợ đảm bảo thực hiện di dời cơ sở tiểu thủ công nghiệp gây ô nhiễm môi trường hoặc không phù hợp quy hoạch đô thị phải di dời trên địa bàn. Theo kết quả rà soát và báo cáo của các địa phương, trên địa bàn tỉnh có 2.361 cơ sở phải di dời. Đến nay, công tác di dời đã triển khai thực hiện tại TP Hạ Long, TP Cẩm Phả, TX Đông Triều và huyện Ba Chẽ...
Công tác bảo vệ môi trường, phòng ngừa, kiểm soát ô nhiễm môi trường di sản luôn được tỉnh ưu tiên hàng đầu với nhiều nỗ lực nhằm cải thiện, bảo đảm môi trường Vịnh Hạ Long và tạo ra những đột phá mới. Công tác này đã thu hút được nhiều dự án về bảo vệ môi trường Vịnh Hạ Long như: Dự án Tăng trưởng xanh, dự án bảo vệ môi trường Vịnh Hạ Long do tổ chức JICA tài trợ.... Để kiểm soát ô nhiễm từ nguồn, tỉnh Quảng Ninh cũng ban hành nhiều văn bản, kế hoạch, nghị quyết về bảo vệ môi trường, đồng thời chỉ đạo các ngành chức năng chú trọng thu gom, giảm thiểu chất thải phát sinh, kiểm soát chất lượng môi trường Vịnh Hạ Long. Tỉnh đã kiên quyết di chuyển các hoạt động vận chuyển, bốc rót than, clinker, đá vôi trên Vịnh Hạ Long; di dời các cơ sở gây ô nhiễm ra khỏi khu vực vùng đệm (nhà máy sàng tuyển than, các cảng than); tiến tới đóng cửa toàn bộ các mỏ khai thác đá, vật liệu xây dựng thông thường trong năm 2025; chấm dứt không cấp phép hoạt động các nhà máy có nguy cơ ảnh hưởng đến môi trường Vịnh Hạ Long; đến năm 2030, dự kiến sẽ chấm dứt hoạt động các nhà máy xi măng tại khu vực phụ cận Vịnh Hạ Long…
Môi trường nước trong khu vực Vịnh Hạ Long được thực hiện quan trắc, giám sát định kỳ hàng quý hiện trạng tại 41 điểm quan trắc. Tỉnh cũng đã triển khai thực hiện Dự án thoát nước và xử lý nước thải sinh hoạt TP Hạ Long, đầu tư nâng cấp các hệ thống thu gom, xử lý nước thải tại các địa phương ven bờ Vịnh Hạ Long từng bước nâng cao tỷ lệ thu gom, xử lý nước thải khu đô thị tập trung ven bờ (Hạ Long, Cẩm Phả, Vân Đồn, Quảng Yên) hiện tại đạt trên 60%. Liên quan đến hoạt động của các tàu du lịch, tỉnh cũng yêu cầu lắp đặt thiết bị phân ly dầu nước, các tàu du lịch đóng mới trên Vịnh Hạ Long đều có hệ thống xử lý nước thải bảo đảm quy chuẩn; triển khai dự án xử lý, giảm thiểu ô nhiễm nước thải tại các điểm tham quan trên Vịnh Hạ Long sử dụng công nghệ Jokaso, Uniship.
Ngoài ra trong lĩnh vực nông nghiệp công tác BVMT được triển khai một cách quyết liệt. Hiện toàn tỉnh đã đầu tư xây dựng 8 khu lưu chứa, 5.190 bể chứa bao gói thuốc BVTV sau sử dụng tại các vùng sản xuất nông nghiệp tập trung; thí điểm 2 mô hình thu gom bao gói thuốc BVTV sau sử dụng với quy mô 20ha tại xã Bình Dương, TP Đông Triều và xã Sơn Dương, TP Hạ Long. Đến nay, toàn tỉnh thu gom, tiêu hủy 8.000kg vỏ bao gói thuốc BVTV sau sử dụng. Các trang trại chăn nuôi cơ bản đều có công trình xử lý chất thải. Hiện nay toàn tỉnh có 8.815 hộ chăn nuôi, trong đó có 93,24% tỷ lệ chất thải ở các cơ sở chăn nuôi thu gom, có áp dụng các biện pháp xử lý như sử dụng đệm lót sinh học, xây dựng công trình khí sinh học (biogas), ủ/bán phân, thu gom và dọn rửa vệ sinh hàng ngày...
Cùng với các giải pháp trên, công tác tuyên truyền, truyền thông môi trường và phổ biến kiến thức về BVMT được các sở, ngành và địa phương, các tổ chức chính trị, xã hội trong toàn tỉnh triển khai thực hiện thông qua nhiều hình thức, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và mang lại hiệu quả cao. Nhờ được đầu tư nguồn lực tài chính một cách thỏa đáng, môi trường của tỉnh ngày càng được cải thiện, mức độ ô nhiễm môi trường ở nhiều khu vực được kiểm soát, việc thu gom xử lý rác thải, nước thải tập trung tại các trung tâm đô thị có nhiều chuyển biến tích cực. Ô nhiễm môi trường không khí đã được kiểm soát chặt chẽ hơn thông qua hệ thống quan trắc môi trường tự động. Trên địa bàn tỉnh không còn cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, không còn điểm ô nhiễm tồn lưu hóa chất bảo vệ thực vật. Tỉnh Quảng Ninh đã giải quyết một số vấn đề môi trường, đáp ứng nhu cầu về phát triển kinh tế - xã hội bền vững của tỉnh.
Nguồn: https://baoquangninh.vn/no-luc-vi-muc-tieu-phat-trien-xanh-3350936.html
Bình luận (0)